Tổng hợp

Phân tích cơ sở lý luận của quan điểm toàn diện

Quan điểm toàn diện là gì?

Quan điểm toàn diện là quan điểm được phản ánh trong phương pháp luận triết học. Khi các nhìn nhận phải được thể hiện một cách toàn diện. Quan điểm này mang đến tính đúng đắn trong hoạt động xem xét hay đánh giá một đối tượng nhất định. Các nhà nghiên cứu chỉ ra tính hợp lý cần thiết trong nhu cầu phản ánh chính xác và hiệu quả đối tượng. Từ đó mà các đánh giá mới mang đến tính chất khách quan, hiệu quả. Trên thực tế, quan điểm này giữ nguyên giá trị của nó. Khi mà những cần thiết trong đánh giá hay phán xét đối tượng.

Quan điểm toàn diện là một quan điểm mang tính phương pháp luận khoa học trong nhận thức thế giới. Khi nghiên cứu và xem xét sự vật phải quan tâm đến tất cả các yếu tố, các mặt, bao gồm cả măt gián tiếp, trung gian có liên quan đến sự vật. Quan điểm này xuất phát từ mối liên hệ phổ biến của các sự vật, hiện tượng và các hình thái tri thức

Quan điểm này thể hiện vai trò của người thực hiện các phân tích trên đối tượng. Khi nghiên cứu và xem xét hiện tượng, sự vật hay sự việc. Chúng ta phải quan tâm đến tất cả các yếu tố kể cả khâu gián tiếp hay trung gian có liên quan đến sự vật. Tức là tất cả những tác động có thể lên chủ thể đang quan tâm. Không chỉ nhìn nhận với tính chất tiêu cực hay tích cực theo cả xúc. Mà phải là những tiến hành trên lý trí, kinh nghiệm và trình độ đáng giá chuyên môn. Như vậy các hướng tác động mới nếu có mới mang đến hiệu quả.

Quan điểm toàn diện là gì?
Quan điểm toàn diện là gì?

Điều này xuất phát từ mối liên hệ nằm trong nguyên lý phổ biến của các hiện tượng, sự vật trên thế giới. Với các tính chất trong tác động và phản ánh kết quả khác nhau. Bởi phải có quan điểm toàn diện vì bất cứ mối quan hệ nào cũng tồn tại sự vật, sự việc. Không có bất cứ sự vật nào tồn tại một cách riêng biệt, hay chỉ chịu tác động từ duy nhất một yếu tố. Có khả năng tồn tại cô lập, độc lập với các sự vật khác. Tính chất trong những ảnh hưởng từ chủ quan và khách quan là rất đa dạng. Nghiên cứu và phân tích cho thấy rằng, nếu muốn đánh giá chủ thể một cách hiệu quả nhất, cần nhìn nhận vào toàn diện và bày tỏ quan điểm.

Quan điểm này thể hiện trong tất cả các hoạt động có tác động của phản ánh quan điểm. Như những ví dụ trong đánh giá một con người với những mặt khác nhau phản ánh trong con người họ. Không thể chỉ thực hiện quan sát phiến diện từ những thể hiện bên ngoài để đánh giá tính cách hay thái độ, năng lực của họ. Cũng không thể chỉ dựa trên một hành động để phán xét con người và cách sống của họ.

Khi đánh giá, cần có thời gian cho sự quan sát tổng thể. Từ những phản ánh trong bản chất con người, các mối quan hệ của người này với người khác. Cách cư xử cũng như việc làm trong quá khứ và hiện tại. Những nhìn nhận và đánh giá trên từng khía cạnh và kết hợp với nhau sẽ cho ra những quan điểm toàn diện. Từ đó mà cách nhìn nhận một người được thực hiện hiệu quả với các căn cứ rõ ràng. Nó không phải là những phù phiếm của nhận định. Chỉ khi hiểu hết về người đó bạn mới có thể đưa ra các nhận xét.

Cơ sở lý luận của quan điểm toàn diện:

Quan điểm này được thể hiện từ cơ sở phương pháp luận khoa học của chủ nghĩa duy vật biện chứng. Với các tính chất thể hiện trong tính khách quan, tính phổ biến và tính phong phú, đa dạng của các mối liên hệ và sự phát triển của tất cả các sự vật, hiện tượng trong tự nhiên, xã hội và tư duy. Sự tác động lẫn nhau này giúp cách sự vật được phản ánh với tính chất đa dạng trong thực tế. Một sự vật được nhìn nhận theo các yếu tố tác động và những tác động nên yếu tố khác.

Với chủ nghĩa duy vật biện chứng, những phản ánh trên sự vật đều được giải thích và đều cần phải giải thích. Khi những nguyên nhân luôn tồn tại và sự vật tác động lẫn nhau. Khi đó, việc nhìn nhận và đánh giá muốn mang đến hiệu quả phải dựa trên những tính chất phản ánh đầy đủ nhất. Xác định đúng đắn mới mang đến hiệu quả trong quan điểm thể hiện. Do đó mà tính chất toàn diện là tính chất  cần thiết, quan trọng.

Trong tính chát duy vật biện chứng, những nhìn nhận và đánh giá phải được xây dựng từ nhiều chiều. Nó giải thích cho những phản ánh kết quả tồn tại trên thị trường. Những nguyên nhân được tìm ra có nguyên nhân trực tiếp hay tác động không trực tiếp. Và phản ánh năng lực, khả năng và cái nhìn nhiều chiều của một chủ thể.

Cơ sở lý luận của quan điểm toàn diện là nguyên lý về mối liên hệ phổ biến. Các sự vật, hiện tượng có mối liên hệ rất đa dạng và phong phú: có mối liên hệ bên trong, mối liên hệ bên ngoài; có những mối liên hệ chung của toàn bộ thế giới hoặc trong những lĩnh vực rộng lớn của thế giới lại có những mối liên hệ riêng từng lĩnh vực, từng sự vật, từng hiện tượng riêng biệt; có mối liên hệ trực tiếp giữa hai hoặc nhiều sự vật, hiện tượng với nhau, và có những mối liên hệ gián tiếp, trong đó các sự vật, hiện tượng liên hệ, tác động qua lại lẫn nhau thông qua một hay nhiều khâu trung gian mới phát huy được tác dụng; có mối liên hệ tất nhiên, ngẫu nhiên; mối liên hệ cơ bản, thuộc về bản chất của sự vật, đóng vai trò quyết định sự tồn tại và phát triển của sự vật, cũng có những mối liên hệ không cơ bản, chỉ đóng vai trò hỗ trợ, bổ sung cho sự tồn tại và phát triển của sự vật, hiện tượng. Các mối liên hệ này tồn tại phổ biến trong tự nhiên, trong xã hội loài người cũng như trong ý thức của con người.

Cơ sở của mối liên hệ phổ biến là tính thống nhất vật chất của thế giới. Bởi lẽ, bản chất của thế giới là vật chất. Vật chất có thuộc tính chung nhất là tồn tại khách quan. Các sự vật trong thế giới đa dạng đến đâu thì cũng chỉ là những hình thức tồn tại cụ thể của vật chất, chúng đều chịu sự chi phối của quy luật vật chất, nên chúng có liên hệ chặt chẽ với nhau.

Quan điểm này được thể hiện từ cơ sở phương pháp luận khoa học của chủ nghĩa duy vật biện chứng. Với các tính chất thể hiện trong tính khách quan, tính phổ biến và tính phong phú, đa dạng của các mối liên hệ và sự phát triển của tất cả các sự vật, hiện tượng trong tự nhiên, xã hội và tư duy. Sự tác động lẫn nhau này giúp cách sự vật được phản ánh với tính chất đa dạng trong thực tế. Một sự vật được nhìn nhận theo các yếu tố tác động và những tác động nên yếu tố khác.

Phân tích cơ sở lý luận của quan điểm toàn diện
Phân tích cơ sở lý luận của quan điểm toàn diện

Nội dung của quan điểm toàn diện:

Khi chúng ta phân tích bất cứ một đối tượng nào, việc thực hiện xác định tiêu chí là cần thiết. Trong xác định những mục tiêu cần xác định trên đối tượng. Mục tiêu đặt ra càng nhiều thì các tính chất cần đánh giá càng lớn. Từ đó mà người tiến hành có những hiểu biết đối với bản chất của đối tượng. Khi nhìn nhận trên khía cạnh nào, họ cũng có thể cho ra những đánh giá. Tính chất toàn diện được phản ánh.

Chúng ta cần vận dụng lý thuyết một cách hệ thống, khi thực hiện trên các đối tượng khác nhau. Tùy thuộc vào đối tượng và tính chất của nó mà cách tiếp cận trên những phương diện cụ thể. Cũng như sự áp dụng linh hoạt, sáng tạo và không dập khuôn. Phải biết điều chỉnh các mức độ và yếu tố tác động hợp lý để tìm kiếm hiệu quả tốt nhất. Tức là: xem xét nó được cấu thành nên từ những yếu tố, những bộ phận nào với những mối quan hệ ràng buộc và tương tác ra sao. Thực hiện các phân tích để hiểu rõ về cơ chế hay những mối liên hệ giữa những kết quả phản ánh. Từ đó có thể phát hiện ra thuộc tính chung của hệ thống vốn không có ở mỗi yếu tố.

Mặt khác khi nhìn nhận toàn diện, phải xem xét cả mối quan hệ của sự vật với các yếu tố xung quanh. Trong tính chất tác động hay ảnh hưởng lẫn nhau giữa các yếu tố. Điều này cũng làm cho hướng tiếp cận được thể hiện hiệu quả hơn khi đánh giá toàn diện các phản ánh từ sự vật. Xem xét sự vật ấy trong tính mở của nó, trong mối quan hệ với các hệ thống khác. Hay trong mối quan hệ với các yếu tố tạo thành môi trường vận động, phát triển của nó… Tạo ra sự toàn diện từ nhìn nhận bên trong đến các tác động bên ngoài.

Ý nghĩa của quan điểm toàn diện

Khi phân tích bất cứ đối tượng nào thì cần vận dụng lý thuyết, hiểu biết một cách hệ thống thì sẽ xem xét được cấu thành nên những yếu tố, những bộ phận nào với mối quan hệ ràng buộc và tương tác nào thì từ đó phát hiện ra thuộc tính chung của hệ thống vốn không có ở mỗi yếu tố. Chúng ta cần xem xét sự vật trong tính mở của nó tức xem xét xem trong mối quan hệ với các hệ thống khác với các yếu tố tạo thành môi trường vận động và phát triển của nó; xem xét tất cả các mặt, các mối liên hệ của sự vật và các khẩu trung của nó. Phải nắm được và đánh giá đúng vị trí, vai trò của từng mặt, từng mối liên hệ trong quá trình cấu thành sự vật. Bản thân quan điểm toàn diện đã bao gồm quan điểm lịch sự vì vậy khi xem xét, hiện tượng phải đặt sự vật hiện tượng vào đúng không gian, thời gian mà sự vật, sự việc và hiện tượng tồn tại.

Yêu cầu của quan điểm toàn diện

Mối quan hệ của quan điểm toàn diện có thể là giữa các yếu tố, các bộ phận giữa sự vật này với sự vật khác giữa các mối liên hệ trực tiếp với mối liên hệ gián tiếp. Cái nhìn mang tính phiến diện sẽ không mang đến hiệu quả trong công tác thực hiện mà ngực lại sẽ có thể tạo ra những nhận định hay các quan điểm mang tính lệch lạc; cũng như sẽ mang đến những quyết định không đúng đắn cho mục tiêu của thực hiện phản ánh quan điểm.

Theo quan điểm toàn diện thì con người cần nhận thức sự vật qua mối quan hệ qua lại và mối quan hệ này có thể là giữa các yếu tố, các bộ phận, giữa sự vật này với sự vật khác; giữa mối liên hệ trực tiếp với mối liên hệ gián tiếp. Khi chúng ta nhìn nhận quan điểm toàn diện thì mới đưa ra được các nhận thức đúng đắn. Không những thế quan điểm toàn diện còn đòi hỏi con người phải chú ý và biết phân biệt từng mối liên hệ đó là mối liên hệ chủ yếu với tất yếu, mối liên hệ bên trong và bên ngoài, mối liên hệ về bản chất. Quan điểm toàn diện đòi hỏi con người phải chú ý và phân biệt từng mối liên hệ, cách nhìn nhận trên các khía cạnh khác nhau phản ánh những đặc trung riêng biệt. Từ đó làm nên tính đa dạng của chủ thể trong cách thể hiện trên thực tế. Bởi vậy mà việc quan tâm và phân tích từng yếu tố được thể hiện trên cơ sơ cụ thể. Bên cạnh đó, quan điểm toàn diện còn đòi hỏi con người phải nắm bắt được khuynh hướng phát triển của sự vật trong tương lai. Những nhìn nhận mang đến phản ánh như thế nào cho phù hợp hay cơ sở để phát triển trong tương lai; hoặc những yếu tố biến động có thể được đánh giá mang đến những nhận định nhất định cần thiết giúp cho việc thực hiện các hoạt động tác động trên sự vật được tiến hành hiệu quả đáp ứng các mong muốn của chủ thể tiến hành.

Để nhận thức đúng bản chất của sự vật, hiện tượng cần phải xem xét sự vật, hiện tượng trong mối liên hệ, vì bản chất của sự vật, hiện tượng được bộc lộ thông qua mối liên hệ giữa chúng với các sự vật, hiện tượng khác.

Sự vật tồn tại trong mối liên hệ phổ biến, nhưng vị trí, vai trò của các mối liên hệ không “ngang bằng” nhau. Vì vậy, cần xác định được những mối liên hệ cơ bản, chủ yếu, trọng tâm thì mới nhận thức được sâu sắc bản chất của sự vật, mới thấy được khuynh hướng vận động, phát triển của nó.

Quan điểm toàn diện đối lập với quan điểm phiến diện trong nhận thức và hoạt động thực tiễn. Quan điểm phiến diện chỉ thấy mặt này, mối liên hệ này mà không thấy mặt khác, mối liên hệ khác; nhận thức sự vật trong trạng thái cô lập, giải quyết công việc không đảm bảo tính đồng bộ.

Quan điểm toàn diện cũng hoàn toàn xa lạ với chủ nghĩa chiết trung và thuật ngụy biện:

  • Chiết trung là kết hợp một cách vô nguyên tắc, chủ quan những cái không thể kết hợp được với nhau hoặc coi những mối liên hệ là “ngang bằng” nhau, không có sự phân biệt về vai trò của chúng.
  • Ngụy biện là lối tư duy đánh tráo một cách có chủ đích vị trí, vai trò của các mối liên hệ, lấy mối liên hệ không cơ bản thay cho mối liên hệ cơ bản, mối liên hệ không bản chất thay cho mối liên hệ bản chất.

Cũng như thực hiện với quan sát các mối quan hệ hay tác động bên ngoài của nó qua lại với những nhân tố khác. Việc thực hiện nhìn nhận và đưa ra quan điểm hiệu quả giúp cho các yêu cầu trong mục tiêu phân tích được phản ánh.

Theo quan điểm toàn diện, con người cần nhận thức sự vật qua mối quan hệ qua lại. Chỉ có như vậy mới mang đến những phản ánh cho hiểu biết về sự vật. Tính nhiều chiều và phân tích càng cụ thể, có thể mang đến những nhìn nhận đầy đủ và hiệu quả nhất. Việc am hiểu về đối tượng mới mang đến các tính toán và tác động hiệu quả lên đối tượng đó.

Ví dụ về quan điểm toàn diện
Ví dụ về quan điểm toàn diện

Ví dụ chứng minh quan điểm toàn diện

Quan điểm toàn diện thể hiện trong tất cả các hoạt động có tác động của phản ánh quan điểm. Ví dụ trong đánh giá một con người với những mặt khác nhau phản ánh trong con người họ; không thể chỉ thực hiện quan sát phiến diện từ những thể hiện bên ngoài để đánh giá tính cách, thái độ và năng lực của họ. Cũng không thể chỉ dựa trên một một hành động để phán xét con người hay phán xét cách sống của họ. Khi đánh giá cần có thời gian cho quá trình quan sát tổng thể từ những phản ánh trong bản chất con người; các mối quan hệ của người này với người khác; cách cư xử cũng như việc làm trong quá khứ và hiện tại. Những nhìn nhận và đánh gia streen từng khía cạnh và kết hợp với nhau sẽ tạo ra những quan điểm toàn diện từ đó mà cách nhìn nhận một người được thực hiện hiệu quả với các căn cứ rõ ràng; chứ không phải chỉ là phù phiếm, giả định của nhận định.

Hay trong công cuộc đổi mới của Đảng Cộng sản Việt Nam không những chú ý đến mối liên hệ nội tại mà còn chú trọng đến mối liên hệ giữa sự vật này với sự vật khác. Qua quá trình đổi mới thì chúng ta đã sử dụng đồng bộ các phương tiện cũng như biện pháp khác nhau để mang lại hiệu quả cao nhất; không những chỉ vận dụng được nguồn lực đất nước mà còn cần tận dụng sự giúp đỡ các các nước láng giềng.

********************

Đăng bởi: THPT Sóc Trăng

Chuyên mục: Tổng hợp

Bản quyền bài viết thuộc trường THPT thành Phố Sóc Trăng. Mọi hành vi sao chép đều là gian lận!
Nguồn chia sẻ: Trường THPT Sóc Trăng (thptsoctrang.edu.vn)

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Back to top button