Tổng hợp

Cương lĩnh là gì? Hoàn cảnh ra đời, nội dung, ý nghĩa của cương lĩnh chính trị đầu tiên

Để có một cuốc sống hòa bình và ấm no hiện nay của đồng bào, những người con, người em, người cháu chúng ta hiện nay thì giai đoạn trước đó, khi nước ta bị các nước khác đô hộ thì việc những người lãnh đạo, những người lính hay thâm chí là những người dân tay không tấc sắt đã dũng cảm chiến đấu vì hòa bình, độc lập tự do là vô cùng lớn lao. Do đó, không thể nào không nhắc đến việc đặt ra mục tiêu, đường lối, nhiệm vụ và phương pháp của Đảng và Nhà nước ta dựa trên bản Cương lĩnh chính trị của Đảng Cộng sản Việt Nam đầu tiên. Vậy Cương lĩnh là gì? Hoàn cảnh ra đời, nội dung, ý nghĩa của cương lĩnh chính trị đầu tiên như thế nào? Mời bạn đọc theo dõi bài viết sau đây cảu trường THPT Sóc Trăng để giải đáp các câu hỏi trên.

Cương lĩnh là gì?

Trong xã hội có mâu thuẫn giai cấp đối kháng, đấu tranh giai cấp mang tính tự phát với mục tiêu kinh tế sẽ phát triển dần đến đấu tranh mang tính tự giác – đấu tranh chính trị, liên quan đến vấn đề giành hoặc giữ chính quyền. Đấu tranh chính đòi hỏi một giai cấp phải có mục tiêu chính trị rõ ràng, tổ chức chặt chẽ, tập hợp, huy động được đông đảo lực lượng của giai cấp và các lực lượng liên minh với mình. Đó là yêu cầu và điều kiện ra đời của đảng chính trị. Để hoàn thành sứ mệnh lịch sử đó, đảng chính trị phải có Cương lĩnh chính trị (cũng gọi là Chính cương; Luận cương chính trị…).

Tính đúng đắn của Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng Cộng sản Việt Nam

Theo ý nghĩa đó, Cương lĩnh chính trị là văn bản, trình bày những nội dung cơ bản về mục tiêu, đường lối, nhiệm vụ và phương pháp cách mạng trong một giai đoạn lịch sử nhất định. Cương lĩnh chính trị là cơ sở thống nhất ý chí và hành động của toàn Đảng, là ngọn cờ tập hợp, cổ vũ các lực lượng xã hội phấn đấu cho mục tiêu lý tưởng của Đảng.

Tính chất của cương lĩnh

So sánh luận cương chính trị với cương lĩnh chính trị - HoaTieu.vn

Nhìn chung Cương lĩnh chính trị có các tính chất cơ bản sau:

– Cương lĩnh là bản tuyên ngôn.

Cương lĩnh là bản tuyên ngôn chính trị, là sự tuyên bố của Đảng về tôn chỉ, mục đích của Đảng chính trị; về mục tiêu, lý tưởng mà Đảng phấn đấu để đạt được trước thế giới, trước công chúng, quần chúng nhân dân… V.I. Lênin viết: “Cương lĩnh là một bản tuyên ngôn vắn tắt, rõ ràng và chính xác nói lên tất cả những điều mà đảng muốn đạt được và vì mục đích gì mà đảng đấu tranh”.

– Cương lĩnh là lời hiệu triệu

Thông qua Cương lĩnh, chính đảng tập hợp lực lượng gia nhập đảng và nhận được sự ủng hộ, tự nguyện đi theo đảng của các tầng lớp nhân dân, sự ủng hộ của bạn bè quốc tế. Với Đảng ta, Cương lĩnh chính trị là cơ sở thống nhất ý chí và hành động của toàn Đảng, là ngọn cờ tập hợp, cổ vũ các lực lượng xã hội phấn đấu cho mục tiêu, lý tưởng của Đảng.

– Cương lĩnh là văn bản “pháp lý” cao nhất của Đảng.

Cương lĩnh là văn bản quan trọng nhất của Đảng, là cơ sở lý luận và đường lối cơ bản của Đảng, định hướng cho đường lối trong các lĩnh vực. Mọi văn bản nghị quyết khác của Đảng đều phải tuân thủ, phù hợp, không được trái với Cương lĩnh, kể cả Điều lệ Đảng.

– Cương lĩnh là văn bản có tính chiến lược lâu dài.

Cương lĩnh là văn bản trình bày những nội dung cơ bản về mục tiêu, đường lối, nhiệm vụ và phương pháp cách mạng trong một giai đoạn dài. Đối với Đảng ta, nếu nội dung cơ bản của Báo cáo chính trị của Đảng là nhiệm vụ cho 5 năm, của Chiến lược phát triển kinh tế – xã hội là 10 năm thì Cương lĩnh định hướng sự phát triển của đất nước trong thời gian dài.

– Cương lĩnh là cơ sở của công tác xây dựng và phát triển Đảng.

Mọi đảng viên trước khi gia nhập Đảng đều phải hiểu biết về Cương lĩnh, trên cơ sở đó, tự nguyện gia nhập Đảng và thực hiện theo quy định của cương lĩnh, điều lệ đảng.

Các cương lĩnh của Đảng

Những Cương lĩnh đầu tiên của Đảng

Tại Hội nghị thành lập Đảng, Đảng ta đã thông qua Chánh Cương vắn tắt của Đảng, Sách lược vắn tắt của Đảng, Chương trình tóm tắt của Đảng do Nguyễn Ái Quốc khởi thảo. Những văn kiện đó hợp thành Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng.

Sự hình thành phát triển, hoàn thiện đường lối chiến lược cách mạng giải phóng dân tộc của Đảng thời kỳ 1930-1945

Cương lĩnh đầu tiên của Đảng

Luận cương chính trị của Đảng Cộng sản Đông Dương do đồng chí Trần Phú khởi thảo và được Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng (tháng 10-1930) thảo luận, thông qua. Luận cương chính trị của Đảng Cộng sản Đông Dương trình bày những tư tưởng cơ bản về mục tiêu, nhiệm vụ và phương hướng đấu tranh cách mạng của Đảng Cộng sản Đông Dương, tiếp tục khẳng định và bổ sung một số vấn đề cốt lõi về con đường cách mạng của Việt Nam mà Chánh cương vắn tắt của Đảng đã nêu.

Dưới ánh sáng của các cương lĩnh trên, nhân dân ta đã thực hiện thành công Cách mạng Tháng Tám năm 1945 vĩ đại, đập tan ách thống trị của thực dân, phong kiến, lập nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, đưa dân tộc ta tiến vào kỷ nguyên độc lập, tự do.

Chính cương của Đảng Lao động Việt Nam

Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ II (tháng 2-1951), Đảng ta đổi tên thành Đảng Lao động Việt Nam và thông qua “Chính cương Đảng Lao động Việt Nam”.

Đảng Lao động Việt Nam ra mắt quốc dân

Đảng Lao động Việt Nam ra mắt quốc dân

 

Chính cương Đảng Lao động Việt Nam có tư tưởng nổi bật là chống đế quốc, chống phong kiến, thực hiện cách mạng dân tộc dân chủ để tiến lên làm cách mạng xã hội chủ nghĩa, là ngọn cờ chiến đấu và chiến thắng của dân tộc ta, của Đảng ta. Thực hiện Chính cương Đảng Lao động Việt Nam, nhân dân ta tiến hành thắng lợi các cuộc kháng chiến chống thực dân, đế quốc hết sức vẻ vang; giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, bảo vệ Tổ quốc, làm tròn nghĩa vụ quốc tế, thực hiện cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân trên phạm vi cả nước, đưa cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội và bắt đầu công cuộc đổi mới.

Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Cương lĩnh năm 1991)

Vào cuối thập kỷ 80 và đầu thập kỷ 90 của thế kỷ XX, chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và Đông Âu sụp đổ, chủ nghĩa Mác – Lênin, công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội trải qua thử thách gay gắt; mặc dù công cuộc đổi mới do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo từ Đại hội VI đã thu được những thành tựu nhất định nhưng đời sống nhân dân còn khó khăn, khủng hoảng kinh tế – xã hội chưa được khắc phục…Thực tế đó đặt ra yêu cầu là Đảng cần có một Cương lĩnh chính trị để xác định con đường đi lên của đất nước trong công cuộc đổi mới.

PPT) Cương linh chinh trị nam 1991 | lí học VB2 quản - Academia.edu

Tại Đại hội VII (tháng 6 -1991), Đảng Cộng sản Việt Nam đã thông qua Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, gọi tắt là Cương lĩnh năm 1991.

Cương lĩnh năm 1991, xác định rõ nội dung tính chất của thời đại và làm nổi bật hai nội dung cơ bản: (1) Quan niệm tổng quát về xã hội xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta xây dựng; (2)Những phương hướng cơ bản để xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta Cương lĩnh năm 1991 khẳng định: Đảng lấy chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động, lấy tập trung dân chủ làm nguyên tắc tổ chức cơ bản. Phải xây dựng Đảng vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức; thường xuyên tự đổi mới tự chỉnh đốn, ra sức nâng cao trình độ trí tuệ, năng lực lãnh đạo của Đảng. Cương lĩnh năm 1991 trở thành vũ khí tư tưởng, lý luận, định hướng về tư tưởng và lý luận cho toàn Đảng, toàn dân tiếp tục đi theo con đường xã hội chủ nghĩa trong điều kiện thế giới đầy khó khăn và phức tạp.

Thực hiện Cương lĩnh năm 1991, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta đã đoàn kết phấn đấu, vượt qua những khó khăn, thử thách, giành được thắng lợi to lớn và có ý nghĩa lịch sử. Đất nước đã có sự thay đổi toàn diện, thoát khỏi cuộc khủng hoảng kinh tế – xã hội kéo dài, vượt qua tình trạng nước nghèo, kém phát triển, bước vào nhóm nước đang phát triển có thu nhập trung bình, đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân được nâng lên rõ rệt; vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế ngày càng tăng.

Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011)

Các cương lĩnh cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam (Tái bản, có chỉnh sửa, bổ sung)

Sau 20 năm kể từ khi Cương lĩnh năm 1991 ra đời, tình hình quốc tế trong nước đã có những biến đổi sâu sắc. Cuộc cách mạng khoa học – công nghệ, quá trình toàn cầu hoá tiếp tục diễn ra mạnh mẽ; công cuộc đổi mới ở nước ta đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử; Việt Nam ngày càng hội nhập sâu rộng vào thế giới và khu vực. Trước tình hình đó, Đảng cần tỏ rõ quan điểm, thái độ của mình về tình hình quốc tế và định hướng con đường đi lên của đất nước trong thời kỳ mới: từ nay đến giữa thế kỷ XXI. Đại hội X đã yêu cầu sau Đại hội, Trung ương tổ chức nghiên cứu sửa đổi, bổ sung Cương lĩnh năm 1991 cho phù hợp với điều kiện mới. Đại hội XI của Đảng đã thông qua Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011), gọi tắt là Cương lĩnh (bổ sung, phát triển năm 2011).

Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng là gì?

Nhận xét chủ trương tập hợp lực lượng cách mạng trong Cương lĩnh chính trị đầu tiên (đầu năm 1930) của Đảng Cộng sản Việt Nam và Luận cương chính trị (10 –

Cương lĩnh chính trị của Đảng Cộng sản Việt Nam được biết đến ở đây đó chính là văn bản trình bày tóm tắt mục tiêu, đường lối, nhiệm vụ và phương pháp của Đảng Cộng sản Việt Nam trong thời kỳ chống giặc ngoại xâm. Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng cộng sản Việt Nam được coi là văn bản có giá trị cao nhất trong hệ thống các văn bản của Đảng Cộng sản Việt Nam (trên cả Điều lệ Đảng). Cho đến nay, Đảng Cộng sản Việt Nam có 5 cương lĩnh.

Hoàn cảnh ra đời của cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng

Các Cương lĩnh – Mega Story

Cương lĩnh đầu tiên của Đảng được đề ra tại Hội nghị hợp nhất các tổ chức cộng sản trong nước có ý nghĩa như Đại hội để thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam. Hội nghị do đồng chí Nguyễn Ái Quốc, đại biểu Quốc tế Cộng sản triệu tập và chủ trì, cùng với sự tham dự chính thức của hai đại biểu Đông Dương Cộng sản Đảng (6-1929); hai đại biểu của An Nam Cộng sản Đảng (10-1929) và một số đồng chí Việt Nam hoạt động ngoài nước. Hội nghị họp bí mật ở nhiều địa điểm khác nhau trên bán đảo Cửu Long (Hương Cảng), từ ngày 6-1 đến ngày 7 tháng 2 năm 1930, đã thảo luận quyết định thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam và nhất trí thông qua 7 tài liệu, văn kiện, trong đó có 4 văn bản hợp thành nội dung Cương lĩnh chính trị của Đảng:

– Chính cương vắn tắt của Đảng,

– Sách lược vắn tắt của Đảng,

– Chương trình tóm tắt của Đảng

– Điều lệ vắn tắt của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Tất cả các tài liệu, văn kiện nói trên đều do Nguyễn Ái Quốc khởi thảo dựa trên cơ sở vận dụng chủ nghĩa Mác – Lênin, đường lối Đại hội VI (1928) của Quốc tế Cộng sản; nghiên cứu các Cương lĩnh chính trị của những tổ chức cộng sản trong nước, tình hình cách mạng thế giới và Đông Dương. Dù là vắn tắt, tóm tắt, song nội dung các tài liệu, văn kiện chủ yếu của Hội nghị được sắp xếp theo một logic hợp lý của một Cương lĩnh chính trị của Đảng.

Trong Chính cương của Đảng đã nêu “chủ trương làm tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản”. Đó là mục đích lâu dài, cuối cùng của Đảng và cách mạng Việt Nam. Mục tiêu trước mắt về xã hội làm cho nhân dân được tự do hội họp, nam nữ bình quyền, phổ thông giáo dục cho dân chúng; về chính trị đánh đổ đế quốc chủ nghĩa Pháp và bọn phong kiến làm cho nước Việt Nam hoàn toàn độc lập, lập chính phủ, quân đội của nhân dân (công, nông, binh); về kinh tế là xóa bỏ các thứ quốc trái, bỏ sưu thuế cho dân cày nghèo, thu hết sản nghiệp lớn của đế quốc giao chính phủ nhân dân quản lý, thu hết ruộng đất chiếm đoạt của đế quốc làm của công chia cho dân cày nghèo, phát triển công, nông nghiệp và thực hiện lao động 8 giờ. Những mục tiêu đó phù hợp với lợi ích cơ bản của dân tộc, nguyện vọng tha thiết của nhân dân ta.

Sách lược của Đảng nêu rõ Đảng là đội tiên phong của giai cấp công nhân, thu phục giai cấp, lãnh đạo dân chúng nông dân; liên lạc với tiểu tư sản, trí thức, trung nông; tranh thủ, phân hóa trung tiểu địa chủ và tư sản dân tộc, đoàn kết với các dân tộc bị áp bức và giai cấp vô sản thế giới để hình thành mặt trận thống nhất đánh đuổi đế quốc, đánh đuổi bọn đại địa chủ và phong kiến, thực hiện khẩu hiệu nước Việt Nam độc lập, người cày có ruộng.

Chương trình tóm tắt của Đảng và Điều lệ vắn tắt của Đảng nêu chính xác tên Đảng, tôn chỉ của Đảng, hệ thống tổ chức của Đảng từ chi bộ, huyện bộ, thị bộ hay khu bộ; tỉnh bộ, thành bộ hay đặc biệt bộ và Trung ương.

Toàn bộ Cương lĩnh đầu tiên của Đảng toát lên tư tưởng lớn là cách mạng dân tộc dân chủ Việt Nam tất yếu đi tới cách mạng xã hội chủ nghĩa, độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội; sự nghiệp đó là của nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam – Đảng Mác – Lênin.

Phương hướng chiến lược của cách mạng Việt Nam là “Tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản”.

Nhiệm vụ của cách mạng Việt Nam

Về chính trị: đánh đổ đế quốc chủ nghĩa Pháp và bọn phong kiến; làm cho nước Việt Nam được hoàn toàn độc lập; lập chính phủ công nông binh, tổ chức quân đội công nông.

Về kinh tế: Thủ tiêu hết các thứ quốc trái; tịch thu toàn bộ sản nghiệp lớn (như công nghiệp, vận tải, ngân hàng, v.v.) của tư bản đế quốc chủ nghĩa Pháp để giao cho Chính phủ công nông binh quản lý; tịch thu toàn bộ ruộng đất của bọn đế quốc chủ nghĩa làm của công chia cho dân cày nghèo; bỏ sưu thuế cho dân cày nghèo; mở mang công nghiệp và nông nghiệp; thi hành luật ngày làm tám giờ.

Về văn hoá – xã hội: Dân chúng được tự do tổ chức; nam nữ bình quyền, …; phổ thông giáo dục theo công nông hoá.

Về lực lượng cách mạng: Đảng phải thu phục cho được đại bộ phận dân cày và phải dựa vào hạng dân cày nghèo làm thổ địa cách mạng, đánh đổ bọn đại địa chủ và phong kiến; làm cho các đoàn thể thợ thuyền và dân cày (công hội, hợp tác xã) khỏi ở dưới quyền lực và ảnh hưởng của bọn tư bản quốc gia; phải hết sức liên lạc với tiểu tư sản, trí thức, trung nông, Thanh niên, Tân Việt, v.v. để kéo họ đi vào phe vô sản giai cấp; đối với phú nông, trung tiểu địa chủ và tư bản An Nam mà chưa rõ mặt phản cách mạng thì phải lợi dụng, ít lâu mới làm cho họ đứng trung lập. Bộ phận nào đã ra mặt phản cách mạng (như Đảng lập hiến v.v.) thì đánh đổ.

Về lãnh đạo cách mạng: Giai cấp vô sản là lực lượng lãnh đạo cách mạng Việt Nam.

Về quan hệ của cách mạng Việt Nam với phong trào cách mạng thế giới: Cách mạng Việt Nam là một bộ phận của cách mạng thế giới.

Ý nghĩa cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng

Hội nghị hợp nhất các tổ chức Cộng sản ở Việt Nam đã quy tụ ba tổ chức cộng sản thành lập một Đảng Cộng sản duy nhất – Đảng Cộng sản Việt Nam theo một đường lối chính trị đúng đắn, đã tạo nên sự thống nhất về tư tưởng, chính trị và hành động của phong trào cách mạng cả nước hướng tới mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội.

Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời là kết quả tất yếu của cuộc đấu tranh dân tộc và đấu tranh giai cấp, là sự khẳng định vai trò lãnh đạo của giai cấp công nhân Việt Nam và hệ tư tưởng Mác – Lênin đối với cách mạng Việt Nam. Nó chứng tỏ rằng giai cấp vô sản nước ta đã trưởng thành và đủ sức lãnh đạo cách mạng.

Các Cương lĩnh – Mega Story

Trong quá trình chuẩn bị về chính trị, tư tưởng và tổ chức cho việc thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam. Nguyễn Ái Quốc không chỉ vận dụng sáng tạo, mà còn bổ sung, phát triển học thuyết Mác – Lênin về Đảng Cộng sản: “Đảng Cộng sản Việt Nam là sản phẩm của sự kết hợp chủ nghĩa Mác – Lênin với phong trào công nhân và phong trào yêu nước của nhân dân Việt Nam”.

– Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng là một cương lĩnh đúng đắn và sáng tạo theo con đường cách mạng Hồ Chí Minh, phù hợp với xu thế phát triển của thời đại mới, đáp ứng yêu cầu khách quan của lịch sử, nhuần nhuyễn quan điểm giai cấp và thấm nhuần tinh thần dân tộc.

– Tiến hành cách mạng tư sản dân quyền và cách mạng ruộng đất để giành chính quyền về tay chân dân đi tới xã hội cộng sản, độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội là tư tưởng cốt lõi của Cương lĩnh này.

– Nội dung Cương lĩnh vẫn còn một vài vấn đề về sau không hoàn toàn phù hợp với thực tế Việt Nam hoặc có một số từ ngữ có thể dẫn tới sự giải thích khác nhau, song với sự bổ sung của Luận cương Chính trị được thông qua tại Hội nghị lần thứ nhất Ban Chấp hành trung ương Đảng, Cương lĩnh chính trị của Đảng đã được hoàn thiện hơn.

– Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: Trong bản Cương lĩnh cách mạng tư sản dân quyền năm 1930, Đảng đã nêu rõ nhiệm vụ chống đế quốc và chống kiến, thực hiện dân tộc lập, người cày ruộng. Cương lĩnh ấy rất phù hợp với nguyện vọng thiết tha của đại đa số nhân dân ra là nông dân. Vì vậy, Đảng đã đoàn kết được những lực lượng cách mạng to lớn xung quanh giai cấp mình, còn các đảng phái của các giai cấp khác thì hoặc bị phá sản hoặc bị cô lập. Do đó, quyền lãnh đạo của Đảng ta – Đảng của giai cấp công nhân không ngừng củng cố và tăng cường.

Video về cương lĩnh là gì?

Kết luận

Hy vọng rằng bài viết trên đây của trường THPT Sóc Trăng đã giúp các bạn biết được Cưỡng lĩnh là gì, nội dung và ý nghĩa của bản Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng Cộng sản Việt Nam. Các bạn hãy ghé thăm trang web của chúng tôi để tìm hiểu thêm nhiều thông tin bổ ích, thú ví khác nhé!

Đăng bởi: THPT Sóc Trăng

Chuyên mục: Tổng hợp

Cưỡng lĩnh là gì? Hoàn cảnh ra đồi, nội dung, ý nghĩa của cương lĩnh chính trị đầu tiên

Để có một cuốc sống hòa bình và ấm no hiện nay của đồng bào, những người con, người em, người cháu chúng ta hiện nay thì giai đoạn trước đó, khi nước ta bị các nước khác đô hộ thì việc những người lãnh đạo, những người lính hay thâm chí là những người dân tay không tấc sắt đã dũng cảm chiến đấu vì hòa bình, độc lập tự do là vô cùng lớn lao. Do đó, không thể nào không nhắc đến việc đặt ra mục tiêu, đường lối, nhiệm vụ và phương pháp của Đảng và Nhà nước ta dựa trên bản Cương lĩnh chính trị của Đảng Cộng sản Việt Nam đầu tiên. Vậy Cương lĩnh là gì? Hoàn cảnh ra đời, nội dung, ý nghĩa của cương lĩnh chính trị đầu tiên như thế nào? Mời bạn đọc theo dõi bài viết sau đây cảu trường THPT Sóc Trăng để giải đáp các câu hỏi trên. Cương lĩnh là gì? Trong xã hội có mâu thuẫn giai cấp đối kháng, đấu tranh giai cấp mang tính tự phát với mục tiêu kinh tế sẽ phát triển dần đến đấu tranh mang tính tự giác – đấu tranh chính trị, liên quan đến vấn đề giành hoặc giữ chính quyền. Đấu tranh chính đòi hỏi một giai cấp phải có mục tiêu chính trị rõ ràng, tổ chức chặt chẽ, tập hợp, huy động được đông đảo lực lượng của giai cấp và các lực lượng liên minh với mình. Đó là yêu cầu và điều kiện ra đời của đảng chính trị. Để hoàn thành sứ mệnh lịch sử đó, đảng chính trị phải có Cương lĩnh chính trị (cũng gọi là Chính cương; Luận cương chính trị…). Theo ý nghĩa đó, Cương lĩnh chính trị là văn bản, trình bày những nội dung cơ bản về mục tiêu, đường lối, nhiệm vụ và phương pháp cách mạng trong một giai đoạn lịch sử nhất định. Cương lĩnh chính trị là cơ sở thống nhất ý chí và hành động của toàn Đảng, là ngọn cờ tập hợp, cổ vũ các lực lượng xã hội phấn đấu cho mục tiêu lý tưởng của Đảng. Tính chất của cương lĩnh Nhìn chung Cương lĩnh chính trị có các tính chất cơ bản sau: – Cương lĩnh là bản tuyên ngôn. Cương lĩnh là bản tuyên ngôn chính trị, là sự tuyên bố của Đảng về tôn chỉ, mục đích của Đảng chính trị; về mục tiêu, lý tưởng mà Đảng phấn đấu để đạt được trước thế giới, trước công chúng, quần chúng nhân dân… V.I. Lênin viết: “Cương lĩnh là một bản tuyên ngôn vắn tắt, rõ ràng và chính xác nói lên tất cả những điều mà đảng muốn đạt được và vì mục đích gì mà đảng đấu tranh”. – Cương lĩnh là lời hiệu triệu Thông qua Cương lĩnh, chính đảng tập hợp lực lượng gia nhập đảng và nhận được sự ủng hộ, tự nguyện đi theo đảng của các tầng lớp nhân dân, sự ủng hộ của bạn bè quốc tế. Với Đảng ta, Cương lĩnh chính trị là cơ sở thống nhất ý chí và hành động của toàn Đảng, là ngọn cờ tập hợp, cổ vũ các lực lượng xã hội phấn đấu cho mục tiêu, lý tưởng của Đảng. – Cương lĩnh là văn bản “pháp lý” cao nhất của Đảng. Cương lĩnh là văn bản quan trọng nhất của Đảng, là cơ sở lý luận và đường lối cơ bản của Đảng, định hướng cho đường lối trong các lĩnh vực. Mọi văn bản nghị quyết khác của Đảng đều phải tuân thủ, phù hợp, không được trái với Cương lĩnh, kể cả Điều lệ Đảng. – Cương lĩnh là văn bản có tính chiến lược lâu dài. Cương lĩnh là văn bản trình bày những nội dung cơ bản về mục tiêu, đường lối, nhiệm vụ và phương pháp cách mạng trong một giai đoạn dài. Đối với Đảng ta, nếu nội dung cơ bản của Báo cáo chính trị của Đảng là nhiệm vụ cho 5 năm, của Chiến lược phát triển kinh tế – xã hội là 10 năm thì Cương lĩnh định hướng sự phát triển của đất nước trong thời gian dài. – Cương lĩnh là cơ sở của công tác xây dựng và phát triển Đảng. Mọi đảng viên trước khi gia nhập Đảng đều phải hiểu biết về Cương lĩnh, trên cơ sở đó, tự nguyện gia nhập Đảng và thực hiện theo quy định của cương lĩnh, điều lệ đảng. Các cương lĩnh của Đảng Những Cương lĩnh đầu tiên của Đảng Tại Hội nghị thành lập Đảng, Đảng ta đã thông qua Chánh Cương vắn tắt của Đảng, Sách lược vắn tắt của Đảng, Chương trình tóm tắt của Đảng do Nguyễn Ái Quốc khởi thảo. Những văn kiện đó hợp thành Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng. Luận cương chính trị của Đảng Cộng sản Đông Dương do đồng chí Trần Phú khởi thảo và được Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng (tháng 10-1930) thảo luận, thông qua. Luận cương chính trị của Đảng Cộng sản Đông Dương trình bày những tư tưởng cơ bản về mục tiêu, nhiệm vụ và phương hướng đấu tranh cách mạng của Đảng Cộng sản Đông Dương, tiếp tục khẳng định và bổ sung một số vấn đề cốt lõi về con đường cách mạng của Việt Nam mà Chánh cương vắn tắt của Đảng đã nêu. Dưới ánh sáng của các cương lĩnh trên, nhân dân ta đã thực hiện thành công Cách mạng Tháng Tám năm 1945 vĩ đại, đập tan ách thống trị của thực dân, phong kiến, lập nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, đưa dân tộc ta tiến vào kỷ nguyên độc lập, tự do. Chính cương của Đảng Lao động Việt Nam Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ II (tháng 2-1951), Đảng ta đổi tên thành Đảng Lao động Việt Nam và thông qua “Chính cương Đảng Lao động Việt Nam”. Chính cương Đảng Lao động Việt Nam có tư tưởng nổi bật là chống đế quốc, chống phong kiến, thực hiện cách mạng dân tộc dân chủ để tiến lên làm cách mạng xã hội chủ nghĩa, là ngọn cờ chiến đấu và chiến thắng của dân tộc ta, của Đảng ta. Thực hiện Chính cương Đảng Lao động Việt Nam, nhân dân ta tiến hành thắng lợi các cuộc kháng chiến chống thực dân, đế quốc hết sức vẻ vang; giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, bảo vệ Tổ quốc, làm tròn nghĩa vụ quốc tế, thực hiện cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân trên phạm vi cả nước, đưa cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội và bắt đầu công cuộc đổi mới. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Cương lĩnh năm 1991) Vào cuối thập kỷ 80 và đầu thập kỷ 90 của thế kỷ XX, chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và Đông Âu sụp đổ, chủ nghĩa Mác – Lênin, công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội trải qua thử thách gay gắt; mặc dù công cuộc đổi mới do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo từ Đại hội VI đã thu được những thành tựu nhất định nhưng đời sống nhân dân còn khó khăn, khủng hoảng kinh tế – xã hội chưa được khắc phục…Thực tế đó đặt ra yêu cầu là Đảng cần có một Cương lĩnh chính trị để xác định con đường đi lên của đất nước trong công cuộc đổi mới. Tại Đại hội VII (tháng 6 -1991), Đảng Cộng sản Việt Nam đã thông qua Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, gọi tắt là Cương lĩnh năm 1991. Cương lĩnh năm 1991, xác định rõ nội dung tính chất của thời đại và làm nổi bật hai nội dung cơ bản: (1) Quan niệm tổng quát về xã hội xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta xây dựng; (2)Những phương hướng cơ bản để xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta Cương lĩnh năm 1991 khẳng định: Đảng lấy chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động, lấy tập trung dân chủ làm nguyên tắc tổ chức cơ bản. Phải xây dựng Đảng vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức; thường xuyên tự đổi mới tự chỉnh đốn, ra sức nâng cao trình độ trí tuệ, năng lực lãnh đạo của Đảng. Cương lĩnh năm 1991 trở thành vũ khí tư tưởng, lý luận, định hướng về tư tưởng và lý luận cho toàn Đảng, toàn dân tiếp tục đi theo con đường xã hội chủ nghĩa trong điều kiện thế giới đầy khó khăn và phức tạp. Thực hiện Cương lĩnh năm 1991, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta đã đoàn kết phấn đấu, vượt qua những khó khăn, thử thách, giành được thắng lợi to lớn và có ý nghĩa lịch sử. Đất nước đã có sự thay đổi toàn diện, thoát khỏi cuộc khủng hoảng kinh tế – xã hội kéo dài, vượt qua tình trạng nước nghèo, kém phát triển, bước vào nhóm nước đang phát triển có thu nhập trung bình, đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân được nâng lên rõ rệt; vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế ngày càng tăng. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) Sau 20 năm kể từ khi Cương lĩnh năm 1991 ra đời, tình hình quốc tế trong nước đã có những biến đổi sâu sắc. Cuộc cách mạng khoa học – công nghệ, quá trình toàn cầu hoá tiếp tục diễn ra mạnh mẽ; công cuộc đổi mới ở nước ta đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử; Việt Nam ngày càng hội nhập sâu rộng vào thế giới và khu vực. Trước tình hình đó, Đảng cần tỏ rõ quan điểm, thái độ của mình về tình hình quốc tế và định hướng con đường đi lên của đất nước trong thời kỳ mới: từ nay đến giữa thế kỷ XXI. Đại hội X đã yêu cầu sau Đại hội, Trung ương tổ chức nghiên cứu sửa đổi, bổ sung Cương lĩnh năm 1991 cho phù hợp với điều kiện mới. Đại hội XI của Đảng đã thông qua Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011), gọi tắt là Cương lĩnh (bổ sung, phát triển năm 2011). Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng là gì? Cương lĩnh chính trị của Đảng Cộng sản Việt Nam được biết đến ở đây đó chính là văn bản trình bày tóm tắt mục tiêu, đường lối, nhiệm vụ và phương pháp của Đảng Cộng sản Việt Nam trong thời kỳ chống giặc ngoại xâm. Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng cộng sản Việt Nam được coi là văn bản có giá trị cao nhất trong hệ thống các văn bản của Đảng Cộng sản Việt Nam (trên cả Điều lệ Đảng). Cho đến nay, Đảng Cộng sản Việt Nam có 5 cương lĩnh. Hoàn cảnh ra đời của cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng Cương lĩnh đầu tiên của Đảng được đề ra tại Hội nghị hợp nhất các tổ chức cộng sản trong nước có ý nghĩa như Đại hội để thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam. Hội nghị do đồng chí Nguyễn Ái Quốc, đại biểu Quốc tế Cộng sản triệu tập và chủ trì, cùng với sự tham dự chính thức của hai đại biểu Đông Dương Cộng sản Đảng (6-1929); hai đại biểu của An Nam Cộng sản Đảng (10-1929) và một số đồng chí Việt Nam hoạt động ngoài nước. Hội nghị họp bí mật ở nhiều địa điểm khác nhau trên bán đảo Cửu Long (Hương Cảng), từ ngày 6-1 đến ngày 7 tháng 2 năm 1930, đã thảo luận quyết định thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam và nhất trí thông qua 7 tài liệu, văn kiện, trong đó có 4 văn bản hợp thành nội dung Cương lĩnh chính trị của Đảng: – Chính cương vắn tắt của Đảng, – Sách lược vắn tắt của Đảng, – Chương trình tóm tắt của Đảng – Điều lệ vắn tắt của Đảng Cộng sản Việt Nam. Tất cả các tài liệu, văn kiện nói trên đều do Nguyễn Ái Quốc khởi thảo dựa trên cơ sở vận dụng chủ nghĩa Mác – Lênin, đường lối Đại hội VI (1928) của Quốc tế Cộng sản; nghiên cứu các Cương lĩnh chính trị của những tổ chức cộng sản trong nước, tình hình cách mạng thế giới và Đông Dương. Dù là vắn tắt, tóm tắt, song nội dung các tài liệu, văn kiện chủ yếu của Hội nghị được sắp xếp theo một logic hợp lý của một Cương lĩnh chính trị của Đảng. Trong Chính cương của Đảng đã nêu “chủ trương làm tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản”. Đó là mục đích lâu dài, cuối cùng của Đảng và cách mạng Việt Nam. Mục tiêu trước mắt về xã hội làm cho nhân dân được tự do hội họp, nam nữ bình quyền, phổ thông giáo dục cho dân chúng; về chính trị đánh đổ đế quốc chủ nghĩa Pháp và bọn phong kiến làm cho nước Việt Nam hoàn toàn độc lập, lập chính phủ, quân đội của nhân dân (công, nông, binh); về kinh tế là xóa bỏ các thứ quốc trái, bỏ sưu thuế cho dân cày nghèo, thu hết sản nghiệp lớn của đế quốc giao chính phủ nhân dân quản lý, thu hết ruộng đất chiếm đoạt của đế quốc làm của công chia cho dân cày nghèo, phát triển công, nông nghiệp và thực hiện lao động 8 giờ. Những mục tiêu đó phù hợp với lợi ích cơ bản của dân tộc, nguyện vọng tha thiết của nhân dân ta. Sách lược của Đảng nêu rõ Đảng là đội tiên phong của giai cấp công nhân, thu phục giai cấp, lãnh đạo dân chúng nông dân; liên lạc với tiểu tư sản, trí thức, trung nông; tranh thủ, phân hóa trung tiểu địa chủ và tư sản dân tộc, đoàn kết với các dân tộc bị áp bức và giai cấp vô sản thế giới để hình thành mặt trận thống nhất đánh đuổi đế quốc, đánh đuổi bọn đại địa chủ và phong kiến, thực hiện khẩu hiệu nước Việt Nam độc lập, người cày có ruộng. Chương trình tóm tắt của Đảng và Điều lệ vắn tắt của Đảng nêu chính xác tên Đảng, tôn chỉ của Đảng, hệ thống tổ chức của Đảng từ chi bộ, huyện bộ, thị bộ hay khu bộ; tỉnh bộ, thành bộ hay đặc biệt bộ và Trung ương. Toàn bộ Cương lĩnh đầu tiên của Đảng toát lên tư tưởng lớn là cách mạng dân tộc dân chủ Việt Nam tất yếu đi tới cách mạng xã hội chủ nghĩa, độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội; sự nghiệp đó là của nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam – Đảng Mác – Lênin. Phương hướng chiến lược của cách mạng Việt Nam là “Tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản”. Nhiệm vụ của cách mạng Việt Nam Về chính trị: đánh đổ đế quốc chủ nghĩa Pháp và bọn phong kiến; làm cho nước Việt Nam được hoàn toàn độc lập; lập chính phủ công nông binh, tổ chức quân đội công nông. Về kinh tế: Thủ tiêu hết các thứ quốc trái; tịch thu toàn bộ sản nghiệp lớn (như công nghiệp, vận tải, ngân hàng, v.v.) của tư bản đế quốc chủ nghĩa Pháp để giao cho Chính phủ công nông binh quản lý; tịch thu toàn bộ ruộng đất của bọn đế quốc chủ nghĩa làm của công chia cho dân cày nghèo; bỏ sưu thuế cho dân cày nghèo; mở mang công nghiệp và nông nghiệp; thi hành luật ngày làm tám giờ. Về văn hoá – xã hội: Dân chúng được tự do tổ chức; nam nữ bình quyền, …; phổ thông giáo dục theo công nông hoá. Về lực lượng cách mạng: Đảng phải thu phục cho được đại bộ phận dân cày và phải dựa vào hạng dân cày nghèo làm thổ địa cách mạng, đánh đổ bọn đại địa chủ và phong kiến; làm cho các đoàn thể thợ thuyền và dân cày (công hội, hợp tác xã) khỏi ở dưới quyền lực và ảnh hưởng của bọn tư bản quốc gia; phải hết sức liên lạc với tiểu tư sản, trí thức, trung nông, Thanh niên, Tân Việt, v.v. để kéo họ đi vào phe vô sản giai cấp; đối với phú nông, trung tiểu địa chủ và tư bản An Nam mà chưa rõ mặt phản cách mạng thì phải lợi dụng, ít lâu mới làm cho họ đứng trung lập. Bộ phận nào đã ra mặt phản cách mạng (như Đảng lập hiến v.v.) thì đánh đổ. Về lãnh đạo cách mạng: Giai cấp vô sản là lực lượng lãnh đạo cách mạng Việt Nam. Về quan hệ của cách mạng Việt Nam với phong trào cách mạng thế giới: Cách mạng Việt Nam là một bộ phận của cách mạng thế giới. Ý nghĩa cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng Hội nghị hợp nhất các tổ chức Cộng sản ở Việt Nam đã quy tụ ba tổ chức cộng sản thành lập một Đảng Cộng sản duy nhất – Đảng Cộng sản Việt Nam theo một đường lối chính trị đúng đắn, đã tạo nên sự thống nhất về tư tưởng, chính trị và hành động của phong trào cách mạng cả nước hướng tới mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời là kết quả tất yếu của cuộc đấu tranh dân tộc và đấu tranh giai cấp, là sự khẳng định vai trò lãnh đạo của giai cấp công nhân Việt Nam và hệ tư tưởng Mác – Lênin đối với cách mạng Việt Nam. Nó chứng tỏ rằng giai cấp vô sản nước ta đã trưởng thành và đủ sức lãnh đạo cách mạng. Trong quá trình chuẩn bị về chính trị, tư tưởng và tổ chức cho việc thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam. Nguyễn Ái Quốc không chỉ vận dụng sáng tạo, mà còn bổ sung, phát triển học thuyết Mác – Lênin về Đảng Cộng sản: “Đảng Cộng sản Việt Nam là sản phẩm của sự kết hợp chủ nghĩa Mác – Lênin với phong trào công nhân và phong trào yêu nước của nhân dân Việt Nam”. – Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng là một cương lĩnh đúng đắn và sáng tạo theo con đường cách mạng Hồ Chí Minh, phù hợp với xu thế phát triển của thời đại mới, đáp ứng yêu cầu khách quan của lịch sử, nhuần nhuyễn quan điểm giai cấp và thấm nhuần tinh thần dân tộc. – Tiến hành cách mạng tư sản dân quyền và cách mạng ruộng đất để giành chính quyền về tay chân dân đi tới xã hội cộng sản, độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội là tư tưởng cốt lõi của Cương lĩnh này. – Nội dung Cương lĩnh vẫn còn một vài vấn đề về sau không hoàn toàn phù hợp với thực tế Việt Nam hoặc có một số từ ngữ có thể dẫn tới sự giải thích khác nhau, song với sự bổ sung của Luận cương Chính trị được thông qua tại Hội nghị lần thứ nhất Ban Chấp hành trung ương Đảng, Cương lĩnh chính trị của Đảng đã được hoàn thiện hơn. – Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: Trong bản Cương lĩnh cách mạng tư sản dân quyền năm 1930, Đảng đã nêu rõ nhiệm vụ chống đế quốc và chống kiến, thực hiện dân tộc lập, người cày ruộng. Cương lĩnh ấy rất phù hợp với nguyện vọng thiết tha của đại đa số nhân dân ra là nông dân. Vì vậy, Đảng đã đoàn kết được những lực lượng cách mạng to lớn xung quanh giai cấp mình, còn các đảng phái của các giai cấp khác thì hoặc bị phá sản hoặc bị cô lập. Do đó, quyền lãnh đạo của Đảng ta – Đảng của giai cấp công nhân không ngừng củng cố và tăng cường. Video về cương lĩnh là gì? Kết luận Hy vọng rằng bài viết trên đây của trường THPT Sóc Trăng đã giúp các bạn biết được Cưỡng lĩnh là gì, nội dung và ý nghĩa của bản Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng Cộng sản Việt Nam. Các bạn hãy ghé thăm trang web của chúng tôi để tìm hiểu thêm nhiều thông tin bổ ích, thú ví khác nhé!

Bản quyền bài viết thuộc trường THPT thành Phố Sóc Trăng. Mọi hành vi sao chép đều là gian lận!
Nguồn chia sẻ: Trường THPT Sóc Trăng (thptsoctrang.edu.vn)

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Back to top button
>
>